CÁCH NHÂN GIỐNG HOA HỒNG

Đăng vào ngày 27/01/2011

Tuy hoa hồng là cây lâu năm, thân gỗ nhưng sức sinh trưởng sẽ ảnh hưởng mạnh tới tuổi thọ của cây. Vì vậy để đạt mục đích sản xuất hàng hóa thì phải trồng mới lại sau 3-5 năm khai thác. Ngoài ra do có nhiều giống mới với màu sắc, mùi hương mới lạ xuất hiện cũng đòi hỏi người sản xuất phải thay thế kịp thời. Vì vậy công tác nhân giống hoa hồng là rất quan trọng. Có nhiều cách nhân giống hoa hồng như: ghép, chiết, giâm cành, bằng hạt và nuôi cấy mô tế bào.

1. Nhân giống hoa hồng bằng phương pháp ghép

Ghép là phương pháp nhân giống hoa hồng chủ yếu ở nước ta. So với giâm cành và nuôi cấy mô thì ghép cành khắc phục được phần nào khả năng hình thành rễ bất định kém, và lợi dụng được khả năng phát triển mạnh của bộ rễ gốc ghép ( thường sử dụng là cây tầm xuân có bộ rễ phát triển mạnh ) nên hút được nhiều nước và dưỡng chất giúp cây tăng trưởng phát triển tốt nâng cao được sản lượng. Bỡi vậy muốn có tỉ lệ thành công cao cần chú ý các khâu sau:

a. Nguồn gốc ghép:

Một gốc ghép tốt cần có các đặc điểm sau: tiếp hợp tốt, tuổi thọ cây giống dài, rễ phát triển tốt, sức hút lớn, chống đổ tốt, sản lượng và chất lượng hoa cao, dễ trồng, dễ ghép…Hiện nay chủ yếu dùng: Hoa hồng dại, cẩu tầm xuân, nguyệt quý hoa và tầm xuân nhiều hoa.

b. Tiêu chuẩn gốc ghép:

- Khả năng tiếp hợp: là điều kiện quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tỉ lệ ghép sống , sự sinh trưởng, chất lượng, sản lượng và tuổi thọ cây. Hiện nay chủ yếu sử dụng hoa hồng dại làm gốc ghép.

- Sức sinh trưởng và khả năng nhân giống cao: Khả năng sinh trưởng của tầm xuân nhiều hoa mạnh hơn các loài khác.

- Cách nhân gốc ghép: có 2 cách: Bằng hạt và giâm cành. Tầm xuân nhiều hoa có rất nhiều hạt, dễ ra rễ, nên có thể nhân giống bằng hạt hoặc giâm cành. Còn nguyệt quý hoa không có hạt nên chỉ giâm cành. Nhưng mỗi cách thì có những ưu điểm riêng của nó: gieo hạt thì có bộ rễ cọc phát triển rất mạnh nhưng thường thì cây không đều nhau còn giâm cành thì cây đều nhau nhưng bộ rễ kém phát triển hơn thời gian sản xuất gốc ghép ngắn hơn so với gieo hạt.

- Không ảnh hưởng đến sản lượng hoa: Mỗi vùng nên chọn ra một số loại gốc ghép phù hợp cho vùng đó.

- Không làm thay đổi chất lượng hoa:

  •  
    • Có khả năng kháng nhiều loại bệnh: Do sử rụng gốc ghép chủ yếu là sử rụng bộ rễ của nó nên kháng được bệnh u sùi rễ và bệnh tuyến trùng rất được quan tâm. Rosa canina có tính kháng mạnh còn Rosa Indica thì yếu nhất.
    • Dễ dàng và thuận lợi cho thao tác ghép: Gốc ghép phải đạt yêu cấu dễ ghép như: gốc ghép bằng cây thực sinh đòi hỏi cổ rễ phải dài, trên thân cây phải ít hoặc không có gai, đốt dài tượng tầng hoạt động mạnh, ghép dễ dàng, tỉ lệ sống cao…
    • Quan hệ giữa gốc ghép và cành ghép:

c. Kỹ thuật ghép:

- Sản xuất gốc ghép: Có thể dùng gốc ghép tử cây trồng bằng hạt hoặc gốc ghép từ cây cắm cành.

- Chuẩn bị mắt ghép: nên chon mắt ghép trên cành đang cho hoa, dùng mắt ở giữa cành lá tốt nhất.

- Phương pháp và kỹ thuật ghép: có nhiều phương pháp ghép khác nhau, nhưng hiện nay trong sản xuất thường sử dụng phương pháp ghép mắt

2. Nhân giống hoa hồng bằng kỹ thuật giâm cành

a. Ưu nhược điểm và các yếu tố ảnh hưởng:

Ưu: không phải chuẩn bị gốc ghép, dễ chăm sóc, bớt tốn nhân lực và không lo chuyện tiếp hợp được hay không như phương pháp ghép, có thể kết hợp với cắt tỉa rất kinh tế. Cây giâm cành ít bị thoái hóa, chu kỳ khai thác dài và tiện lợi cho việc điều tiết sinh truởng.

Nhược: hệ số nhân giống thấp, có rất nhiều giống khó ra rễ, đòi hỏi trang thiết bị phức tạp và phải có kỹ thuật cao.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra rễ: trạng thái sinh lý của cành, độ phát dục, nhiệt độ, ẩm độ, cường độ ánh sáng, nồng độ ôxy, chất kích thích sinh trưởng, giá thể giâm…

b. Thời vụ giâm cành:

có thể áp dụng cho mọi thời vụ trong năm nhưng tốt nhất vẫn là vụ xuân và vụ thu. Ở cả hai thời vụ này cây giống nhanh ra rễ và cho tỉ lệ sống cao nhất.

c. Giá thể:

Tốt nhất là: 2/3 trấu hun + 1/3 đất đồi ( hoặc cát vàng, đất phù sa, cát)

d. Chọn và cắt cành giâm:

cành để nhân giống là loại cành bánh tẻ, tốt nhất là cành mang hoa đang ở giai đoạn sử dụng.

Cành có mắt ngủ bắt đầu nảy lên bắng hạt tấm để trong thời gian giâm cành có thể bật lộc ngay, đến khi trồng cây có sức sinh trưởng phát triển tốt.
Trên cành đã chọn chỉ nên lấy đọan giữa của cành để giâm.

Cành giâm có độ dài từ 8-10 cm, trên đọan cành có từ 1-3 mắt nhưng tốt nhất là 2 mắt. Khi cắt cành phải cắt vát khoảng 30o. Trên cành giâm nên giữ lại 2-3 lá chét ở cuống lá mắt trên.

e. Kỹ thuật giâm:

cành giâm sau khi được cắt xong nhúng nhanh vào dung dịch IAA, NAA 2000-2500 ppm khoảng 3-5 giây,cắm ngay vào giá thể, cắm thẳng đứng, sâu 1-1,5 cm, khoảng cách 4-5 cm.

f. Kỹ thuật phun tưới nước:

Độ ẩm giá thể và độ ẩm không khí trong 3 ngày sau giâm đạt 100% là tốt nhất. Sau đó giảm dần độ ẩm giá thể xuống 80-90%. Nếu có điều kiện tạo ẩm bằng hệ thồng tưới phun tự động. Còn không có điều kiên thì nên tưới bằng bình: phun nhẹ lên toàn bộ bề mặt luống trong 50 giây và cứ 30-40 phút 1 lần vào mùa khô, 50-60 phút vào ẩm. khi cành đã hình thành mầm rễ bất định thì hạ độ ẩm giá thể xuống 80-95%.

g. Kỹ thuật chăm sóc cành giâm:

Phải thường xuyên nhặt bỏ những cành lá úa vì những cành lá này là môi trường truyền bệnh.

Sau khi giâm 5-10 cần phun lên cành giâm một số loại thuốc kích thích sinh trưởng và phân bón qua lá, 10 ngày sau phun lại một lần nữa . Làm như vậy sẽ duy trì đươc dinh dưỡng nuôi cành, tạo được bộ thân lá xanh tốt và cành có khả năng bật lộc sớm. Thường dùng Atonik 1,8% DD 10 ml/bình 8 lít hoặc phân bón lá Thiên nông.

Trong thời gian giâm phải theo dõi tình hình sâu bệnh, và có thể phòng trừ như sau:

  • Nhện đỏ: Pegasus 500 SC 7-10 ml/bình 8 lít, Ortus 5SC 10-12 ml/bình 8 lít.
  • Rệp: dùng Supracide 40 ND nồng độ 0,15%, Supathion 1ml/8 lít.
  • Bệnh phấn trắng: Score 250 ND 0,2-0,3 lít/ha, Anvil 5SC 1lít/ha.
  • Bệnh đốm đenaconil 500 SC 25ml/8 lít, đồng Oxyclorua 30 BTN 70 g/bình 8 lít.
  • Bệnh gỉ sắt: Daconil 500 SC 25 ml/bình 8 lít, Kocide 10-15 g/bình 8 lít

h. Tiêu chuẩn và kỹ thuật bứng cây con:

Sau giâm khoảng 25-35 có thể bứng cây trồng ra ruộng. cây bứng trồng phải đạt tiêu chuẩn: có chiều cao từ 6-10 cm (1-2 mắt ), đường kính cành 0,2-0,4 cm, rễ ra đều xung quanh, chiều dài rễ 3-4 cm, còn giữ nguyên lá, mầm bật từ 2-4 cm không có vết sâu bệnh. Chú ý khi vận chuyển và trồng nên nhẹ nhàng để khỏi bể bầu đất thì cây sẽ nhanh hồi phục.

3. Kỹ thuật trồng

a. Thời vụ trồng:

Có thể trồng quanh năm nhưng tốt nhất vẫn là vụ chính: vụ xuân 2-4 và thu hoa vào tháng chin cùng năm, vụ thu tháng 9-10 thu hoa vào tết Nguyên đán.

b. Kỹ thuật làm đất:

Hồng thích hợp trên đất thịt hay thịt nhẹ. Nên chọn nơi đất cao không bị ngập úng, bằng phẳng, tơi xốp thông thoáng, pH từ 6-6,5, đầy đủ ánh sáng.
Trước khi trồng phải làm đất kỹ, lên luống cao 30 cm, luống hình thang, mặt luống rộng 60-70 cm, rãnh luống rộng 40, xới đất sâu 30 cm. Sau khi làm đất xong tiến hành bổ hốc theo mật độ đã định, bón lót lấp đất xong mới trồng.

c. Mật độ trồng:

Mỗi luống hai hàng. Với mặt luống 60-70 cm thì có thể bố trí hàng cách hàng 35 cm, cây cách cây 30 cm. Với quy cách hai hàng thông gió, dễ chăm sóc.

d. Kỹ thuật bón phân:

  • Bón lót: bón lót phân chuồng và phân hóa hóc trước khi trồng ít nhất 3 ngày, sau đó lấp đất đi. Khi trồng tránh rễ tiếp xúc trực tiếp với phân.
    Cần bón khoảng 30 tấn phân chuồng hoai mục + 280 kg supe lân +280 kg kaliclorua + 150 kg vôi bột ( nếu đất chua )
  • Bón thúc: sau khi trồng 2-3 tháng cần phải tưới thêm phân hữu cơ, ngâm ủ với phân vi sinh theo tỉ lệ 0,66m3 nước cần 90 kg phân hữu cơ + 15 kg phân vi sinh tưới cho 1ha. Định kỳ 10-15 ngày/lần hoặc trung bình mỗi tháng 2 lần, mỗi lần 9 kg urê cho 1000m2 . Ngoài ra phải thường xuyên bổ xung thêm phân bón lá Atonik khoảng 600g/1000m2.
  • Kỹ thuật trồng: Khi trồng lấp đất nhẹ, vun đất nhỏ vào xung quanh gốc ấn nhẹ tay cho cây đứng, tránh làm đứt rễ, trồng xong tưới nước thật ẩm để giữ chặt gốc.

Đối với cây giâm cành trồng xong phải che nắng 5-7 ngày để cây nhanh phục hồi, nâng cao tỉ lệ sống

e. Kỹ thuật tưới nước:

Mùa nắng tưới 1lần/ngày, mùa mưa nếu sau 2 ngày không mưa thì tưới. Và phải tưới vào buổi chiều mát và không được tưới quá muộn, nước còn động lại nấm bệnh rễ phát sinh gây hại.

Có hai phương pháp tưới:

  • Tưới ngập rãnh: cho nước ngập 2/3 rãnh để 2 giờ rồi rút hết nước ra.
  • Tưới bằng vòi phun vào mặt luống giữa 2 hàng cây, tránh nước bắn quá nhiều lên lá dễ nhiễm bệnh.

4. Tỉa mắt

a. Tạo cành hoa:

Sau khi trồng, thời kỳ đầu cây sinh trưởng chậm, các nhánh mới ra yếu ớt, hoa nhỏ, cành ít. Do đó phải ngắt bỏ hết nụ ở trên cành, giữ lại lá, sau 2-3 tháng số lá tăng rất nhanh, tích lũy nhiều dinh dưỡng sẽ mọc nhiều nhánh từ gốc to khỏe. Chọn cành có đường kính hơn 1 cm, ngắt bỏ mầm nách của cành cho hoa, nên để lại 3-4 cành mang hoa.

b. Tỉa định hình cây:

Cần kịp thời tỉa bỏ những cành yếu, cành bị bệnh, cành chết, cành vượt mọc không hợp lý. Nếu trồng bằng cây ghép thì phải chú ý các chồi của gốc ghép phát triển cạnh tranh dinh dưỡng với cành ghép phải ngắt bỏ chúng ngay và phải dùng tay vặt hết tất cả các mầm nhỏ.
Phải khống chế độ cao của cây hồng. Đối với dạng bụi hoa to thì chiều cao tốt nhất là 0,8-1,2 m, con dạng bụi hoa nhỏ thì khoảng 0,5-0,6 m.

c. Ngắt bỏ mầm nách, nụ cành:

Ngoài mầm ngọn, còn có một số mầm nách cũng có khả năng phân hóa thành nhiều hoa trên một cành. Có một số giống mầm nách phát triển mạnh cạnh tranh dưỡng với mầm hoa ngọn nên phải tỉa bỏ các mầm nách.

d. Thay thân chính:

Thân chính sau 2-3 năm bị già cỗi thì cần thay thân mới.
Chọn cành vượt mọc từ mầm ngủ gần gốc, cắt bỏ ngọn ở độ cao 50 cm để làm thân chính và cắt bỏ thân củ đi.

5. Sâu bệnh hại Hoa hồng

Hoa hồng bị rất nhiều loại sâu bệnh gây hại.

a. Bệnh hại hoa hồng

Bệnh phấn trắng: là bệnh hại nghiêm trọng trên hoa hồng, làm giảm hiệu suất quang hợp, giảm sức sống của cây, làm lá rụng sớm, nụ biến hình, không thể nở được thậm chí bị chết khô, ảnh hưởng đến giá trị thẩm mỹ và sản lượng hoa.

Bệnh do nấm Sphaerothecapannosa ( Walls) Lev var. Rosae gây ra.

Các giống lá to và mỏng rễ bị nhiễm bệnh như giống hồng Pháp đỏ, phấn hồng Trung Quốc, VR1…, các giống có tính kháng với bệnh như giống Malina, Magic từ Trung Quốc…

- Triệu chứng bệnh: bệnh bắt đầu phát sinh từ các lá ở giữa và phía trên, ở mô đoạt non. Thời kỳ đầu trên lá xuất hiện đốm vàng nâu sau đó loang rộng dần và xuất hiện những điểm phấn trắng dạng sương rồi sinh ra một lớp phấn trắng. Khi bệnh nặng thì toàn bộ lá bị cuộn lại dầy lên và có màu đỏ tím, cuống lá và đoạt non bị phồng to, mặt dưới cong lại, lá non không mở ra được. Ở lá già có những đốm phấn trắng hình tròn hoặc không định hình. Nụ hoa bị bệnh thì mặt trên phủ một lớp phấn trắng, mặ dưới có lớp nấm dày đặc. Cánh hoa ít bị nhiễm bệnh. Cây bị bệnh sinh trưởng yếu, phát lộc kém.

- Quy luật phát sinh bệnh: Bệnh phát triển mạnh ở điều kiện ẩm ướt nhưng nếu mưa lớn thì bào tử rễ bị rửa trôi nên khó nảy mầm. Do đó bệnh thường phát triển mạnh vào tháng 5, 6 và 9, 10. Trồng quá dày, bón nhiều đạm, ít kali dễ phát bệnh.

- Phương pháp phòng trị:

  • Chọn giống kháng bệnh.
  • Cắt tỉa cho vườn hoa thông thoáng.
  • Một số loại thuốc thường dùng: Vimonyl 72 BTN khoảng 50g/ bình 8 lít, Vicarben 50DHP khoảng 10 ml/bình 8 lít, Rovral 0,2%, Anvil 0,2%…

Bệnh đốm đen: mức độ nhiễm bệnh tùy theo giống.

- Nguyên nhân: do nấm Dipbocarpon Rose

- Triệu chứng bệnh: bệnh bắt đầu từ lá phía dưới, lá già sau đó lan dần lên lá non, đọt nụ và hoa. Thời kỳ đầu trên lá xuất hiện đốm tròn màu đen hoặc xám, quanh đốm có lớp lông nhung nhỏ, đường kính vết bệnh 1,5- 1,8 mm, xung quanh có viền vàng. Vết bệnh thường liên kết lại với nhau thành những đốm to không định hình, sau đó trên đốm xuất hiện các bao đen chứa bào tử, xung quanh đốm bệnh màu vàng, vết bệnh tào thành những vòng nhỏ có màu xanh. Lá bị bệnh rụng rất nhanh, nếu bệnh nặng lá bị rụng gần hết chỉ còn một vài lá trên ngọn. Cành non và cuống hoa bị bệnh có những vết màu đen tím lõm xuống.

- Quy luật phát sinh phát triển bệnh: bệnh phát sinh mạnh trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao và trời râm mát. Tỉ lệ mắt bệnh rất cao khoảng 80%, có khi lên 100%.. Trong một vụ bệnh có thể phát sinh nhiều lần.

- Phương pháp phòng trừ: Thường xuyên dọn cành lá rơi rụng trong vườn đem đốt. Có thể phun thuốc phòng trước khi đoạt non xuất hiện, vụ hè 2 lần/tuần. Bệnh nhẹ thì 7-10 ngày phun một lần.

- Các thuốc thường dùng: Anvil 5 SC 10-15 ml/bình 8 lít, Daconil 500SC 25ml/bình, đồng Oxy clorua 30 BTN 70 g/bình…

1.3 Bệnh mốc tro:

- Nguyên nhân: do nấm Botrytis cinerea Pers.

- Triệu chứng: thời kỳ đầu trên chóp lá có đốm nhỏ như giọt nước, trơn nhẵn, hơi lõm xuống. Sau đó lá biến màu tạo thành mốc tro dày đặc, khi nụ bị bệnh hoa không nở được biến thành màu tối, hoa nát và rụng. Hoa bị bệnh có những chấm nhỏ hình ngọn lửa sau đó màu tối sẫm, co lại và nát. Khi ẩm cao chỗ bệnh tạo thành lớp tro dày đặc.

- Quy luật phát sinh, phát triển bệnh: nhiệt độ 15-25oC, ẩm cao, trên mặt lá có đọng giọt nước là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển.

- Phương pháp phòng trừ:

  • Tránh nước đọng trên mặt lá lâu dễ nhiễm bệnh, dọn hết tàn dư cây trồng và cắt ngắn cành bị bệnh là biện pháp phòng bệnh rất tốt.
  • Thuốc thường sử dụng: Sume- eight 16ml/bình, boocđo 1%.

Bệnh gỉ sắt:

- Nguyên nhân: do nấm Phragmidium mucronatum (Pers)

- Triệu chứng bệnh: trên lá có những đám bào tử màu vàng cam, sau khi vỡ ra có màu gỉ sắt vàng.

- Quy luật phát sinh: nhiệt độ thích hợp cho bào tử nảy mầm từ 18- 23oC, trên 24oC thì bị ức chế, trên 27oC thì không xâm nhiễm.

- Phòng trừ: cắt tỉa bỏ cành bệnh, cành khô, dọn dẹp tàn dư, tạo cho vườn thông thoáng. Có thể dùng một số loại thuốc để phun như Boocđo 1%…

Bệnh mốc sương:

- Nguyên nhân: do nấm Peronospora spora Berk gây nên.

- Triệu chứng: bệnh phát sinh trên lá, đoạt non và hoa. Lúc đầu trên lá xuất hiện vệt màu xanh không định hình, sau biến thành màu vàng nâu hoặc tím tối, cuối cùng là màu nâu tro, xung quanh màu đậm, sau đó lan ra chổ khác. Trời ẩm ướt phía mặt dưới lá có thể thấy một lớp sương màu trắng mỏng, lá dễ bị rụng, mầm nách và cuống hoa bị biến dạng, có vết bệnh. Bệnh nặng thì xuất hiện vết nứt ở cuống đoạt non, trên đọt non vết bệnh hơi lõm xuống, lá bị héo rũ rụng, cây non chết sớm.

- Quy luật phát sinh: Bào tử phát tán cần ẩm độ 100%, nhiệt độ 10-25oC, bào tử nảy mầm cần có giọt nước.

- Phòng trừ: tránh trồng vào lúc nhiệt độ, ẩm độ cao, giảm độ ẩm trên mặt lá. Phun một số thuốc như Boocđo 1%, Ridomil MZ-72 nồng độ 0,1-0,2%.

b. Sâu hại:

Rệp: chủ yếu là rệp bông, rệp vẩy và rệp óng dài. Phần lớn rệp hại đọt non và nụ, một số ít hại lá. Thường phòng trừ bắng cách kết hợp các đợt cắt tỉa, cắt bỏ cành và lá có rệp để tiêu hủy, phun một số thuốc sau: Sherpa 0,1-0,2%, Trebon 0,15-0,2%.

Nhện: chủ yếu là các loại nhện hai chấm, nhện quả táo, nhện đỏ, nhện trắng… Con trưởng thành có kích thước rất nhỏ dài 0,3-0,5 mm. Sinh sản rất nhanh.

- Triệu chứng: lúc đầu mặt trên lá có nhiều điểm nhỏ như nốt kim châm màu nâu vàng, sau đó lá bị mất màu cuộn lại và rụng. Chúng lây lan chủ yếu bằng nhả tơ nhờ gió truyền đi.

- Có thể dùng một số thuốc sau để phòng trị: Ortus 5 EC, Pegasus 0,1%.

Anhtai (sưu tầm) - http://www.botanyvn.com

Chia sẻ bài viết:
  • Print
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google Bookmarks
  • Blogplay